Vietnamese

Đạo Luật Phối Hợp cấp Liên Bang và Tiểu
Bang về Quyền Hạn của Người Lưu Trú
Ở CÁC CƠ SỞ ĐIỀU DƯỠNG CHUYÊN MÔN HAY CƠ SỞ ĐIỀU
DƯỠNG ĐÃ ĐƯỢC MEDICARE/MEDICAID CHỨNG NHẬN
Mọi người lưu trú trong cơ sở chăm sóc dài hạn đều có những quyền riêng được bảo
đảm theo luật Liên Bang và Tiểu Bang. Các quyền hạn này có trong luật Liên Bang và
Tiểu Bang và áp dụng cho cư dân của những cơ sở đã được chứng nhận theo chương
trình Medicaid hoặc Medicare.
Không một cơ sở nào1 được phép đòi hỏi người lưu trú phải khước từ những quyền
hạn này mới được thâu nhận hoặc cho tiếp tục ngụ lại đây.
Một số quyền hạn chỉ có trong luật Minnesota. Các quyền này được trình bày bằng chữ
in nghiêng. Mọi quyền hạn khác đều có trong luật liên bang và áp dụng cho cư dân của
những cơ sở đã được chứng nhận theo chương trình Medicaid hoặc Medicare. Nếu
quyền hạn theo luật Minnesota cũng tương đương với quyền theo luật liên bang, thì sẽ
trình bày quyền hạn cấp liên bang. Và mọi quy định phụ trội đáng kể theo luật tiểu bang
đều được trình bày bằng chữ in nghiêng.
Quyền Hạn của Người Lưu Trú
Người lưu trú có quyền ngụ cư tử tế, tự quyết, giao tiếp với người khác và sử dụng
dịch vụ bên trong và bên ngoài cơ sở. Cơ sở phải bảo vệ và tôn vinh quyền hạn của
mỗi người lưu trú, kể cả từng mục sau đây:
Vận Dụng Quyền Hạn
1. Người lưu trú có quyền vận dụng quyền hạn của mình trên tư cách cá nhân lưu ngụ
ở cơ sở và công dân hoặc cư dân của Hoa Kỳ.
2. Cơ sở không được phép can thiệp, cưỡng ép, kỳ thị và trả đũa nếu người lưu trú
vận dụng quyền hạn của bản thân.
1
Trong tài liệu này, thuật ngữ “cơ sở” nhắc đến viện điều dưỡng, viện chăm sóc nội trú, cơ sở điều dưỡng chuyên
môn hay cơ sở điều dưỡng đã được chứng nhận.
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
3. Nếu tòa án có đủ pháp quyền xét thấy người lưu trú không đủ khả năng lấy quyết
định, thì người được chỉ định đại diện cho cư dân đó (theo luật tiểu bang) sẽ vận
dụng quyền hạn tương ứng.
4. Nếu không có phán xử từ tòa án tiểu bang là người lưu trú bị mất khả năng quyết
định, thì mọi đại diện hợp pháp - được chỉ định đúng theo luật tiểu bang - đều có thể
vận dụng quyền hạn của người lưu trú trong chừng mực được luật đó cho phép.
Xem Lại Hồ Sơ
1. Khi đã yêu cầu bằng lời nói hoặc văn bản thì người lưu trú (hay đại diện hợp pháp
của mình) có quyền lấy xem mọi hồ sơ liên quan - kể cả hồ sơ y tế hiện hành - nội
trong 24 giờ (không kể những ngày cuối tuần và ngày lễ); và
2. Sau khi nhận hồ sơ của mình để kiểm xét: họ (có quyền) lấy bản sao hồ sơ - hoặc
bất cứ phần nào trong đó - với chi phí không vượt quá giá sao y tiêu chuẩn tại cộng
đồng, nếu yêu cầu và báo cho cơ sở biết trước (2 ngày làm việc).
Hiểu Biết về Tình Trạng Y Tế
1. Người lưu trú có quyền được thông báo đầy đủ (bằng ngôn ngữ dễ hiểu) về tình
hình sức khỏe tổng quát của mình, kể cả - nhưng không giới hạn về - bệnh trạng.
2. Người lưu trú có quyền được thông báo đầy đủ từ trước về công việc chăm sóc và
chữa trị, và về bất cứ thay đổi nào ở quá trình đó - nếu có thể ảnh hưởng đến sự
sống an lành của bản thân.
3. Thông Tin về Trị Liệu. Người trong gia đình hay đại diện khác đã được chọn - hoặc
cả hai - đều có thể đi kèm người lưu trú. Thông tin này phải bao gồm kết quả thử
trọng yếu dự kiến về y tế hay tâm lý của cách chữa trị và những giải pháp khác.
Nếu đây là điều không khuyến cáo về mặt y tế - theo ghi nhận của bác sĩ khám
bệnh trong hồ sơ y tế của người lưu trú - thì phải trao thông tin cho giám hộ, hoặc
người khác đã được bệnh nhân chỉ định làm đại diện. Quý vị có quyền từ chối
thông tin này.
4. Trước lúc - hoặc vào thời điểm - nhận bệnh và trong khi lưu lại, mỗi bệnh nhân ung
thư vú (ở bất cứ dạng nào) phải được thông báo đầy đủ về mọi phương cách điều trị
hiệu nghiệm khác mà bác sĩ chữa trị đã biết, kể cả phẫu thuật, chiếu xạ, hóa học trị
liệu - hoặc liệu pháp phối hợp - cùng với những nguy cơ liên quan của từng phương
pháp trong số đó.
2
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Tham Gia Hoạch Định Chữa Trị
1. Người lưu trú có quyền tham gia vào việc hoạch định chăm sóc sức khỏe cho mình.
Quyền hạn này gồm chứa các dịp bàn thảo trị liệu và giải pháp khác với từng người
trông nom săn sóc, cơ hội yêu cầu và tham gia buổi họp mặt bàn thảo chăm sóc
chánh thức, và quyền có người trong gia đình hay đại diện khác đã chọn - hoặc cả
hai - đi kèm. Nếu người lưu trú không thể tham dự buổi họp thì người trong gia
đình - hoặc đại diện khác đã được người lưu trú lựa chọn - có thể thay mặt.
2. Nếu người lưu trú nhập viện điều dưỡng hoặc viện chăm sóc nội trú trong tình trạng
bất tỉnh hay hôn mê - hoặc không thể giao tiếp - thì cơ sở đó phải nỗ lực trong
chừng mực hợp lý (theo quy định ở đoạn văn 3) để thông báo cho người trong gia
đình - hoặc người được bệnh nhân chỉ định (bằng văn bản) làm đầu mối liên lạc
trong trường hợp khẩn cấp - rằng bệnh nhân đã được thâu nhận. Viện điều dưỡng
hay chăm sóc nội trú phải cho phép người trong gia đình tham gia hoạch định chữa
trị, trừ khi cơ sở đó biết - hay có lý do để tin rằng - người lưu trú đã có điều chỉ dẫn
trước (đang còn hiệu lực) đối lập, hoặc biết là người đó đã ký kết văn bản nói rõ
mình không muốn người trong gia đình tham gia. Sau khi thông báo với người trong
gia đình - nhưng trước lúc cho phép người đó tham gia hoạch định chữa trị - viện
điều dưỡng hoặc chăm sóc nội trú phải gắng sức trong chừng mực hợp lý (và đúng
với lề lối hành nghề y tế thỏa đáng) để xác định xem người lưu ngụ có điều chỉ dẫn
trước nào liên quan đến quyết định chăm sóc sức khỏe của bản thân. Vì mục đích
của đoạn văn này, “nỗ lực hợp lý” bao gồm công việc:
A. xem xét vật dụng cá nhân của người lưu trú;
B. xem xét hồ sơ y tế của người lưu trú (những gì cơ sở đang nắm giữ);
C. liên lạc với đầu mối khẩn cấp hoặc người trong gia đình để hỏi thăm xem người
lưu trú có điều chỉ dẫn trước nào không, và có bác sĩ nào mà người đó thường
đến để được chăm sóc; và
D. nếu biết thì hỏi thăm bác sĩ (nơi người đó thường đến để được chăm sóc) xem có
điều chỉ dẫn trước nào không. Nếu viện điều dưỡng hoặc viện chăm sóc nội trú
thông báo với người trong gia đình hay đầu mối liên lạc khẩn cấp đã chỉ định hoặc cho phép thành viên như thế tham gia hoạch định chữa trị đúng theo đoạn
văn này - thì cơ sở không chịu trách nhiệm với người lưu ngụ về những thiệt hại vì
lý do: thông báo với người trong gia đình hay đầu mối liên lạc khẩn cấp - hoặc
việc tham gia của thành viên như thế - là điều sai trái hay vi phạm quyền riêng tư.
3. Trong tiến trình nỗ lực hợp lý để thông báo với người trong gia đình hoặc đầu mối
liên lạc khẩn cấp đã chỉ định, cơ sở phải cố gắng nhận diện đầu mối như thế bằng
cách xem xét vật dụng cá nhân và hồ sơ y tế của người lưu trú mà họ đang có. Nếu
cơ sở không thể báo với người trong gia đình (hay đầu mối liên lạc khẩn cấp đã chỉ
định) nội trong 24 giờ sau khi thâu nhận, thì phải thông báo cho ty dịch vụ xã hội của
quận hạt hoặc cơ quan công lực địa phương rằng: người lưu trú đã được thâu nhận,
nhưng cơ sở không thể liên lạc với ai cả. Ty dịch vụ xã hội quận hạt và cơ quan
3
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
công lực tại địa phương phải giúp cơ sở nhận diện và thông báo với người trong gia
đình hoặc đầu mối liên lạc khẩn cấp đã chỉ định. Ty dịch vụ xã hội cấp quận hạt hay
cơ quan công lực địa phương nào đã hỗ trợ cơ sở đều không chịu trách nhiệm với
người lưu trú về những thiệt hại vì lý do: thông báo với người trong gia đình hay đầu
mối liên lạc khẩn cấp - hoặc việc tham gia của người như thế - là điều sai trái hay vi
phạm quyền riêng tư của bệnh nhân.
Mối Liên Hệ với Những Dịch Vụ Sức
Khỏe Khác
Người lưu trú nào được bên cung cấp dịch vụ ngoại hệ chăm sóc đều được quyền biết
danh tánh của bên đó, nếu yêu cầu. Phải thông báo cho người lưu trú biết (bằng văn
bản) về bất cứ dịch vụ chăm sóc sức khỏe nào do cá nhân, tập đoàn, hoặc tổ chức
khác cống hiến cho người lưu trú - chớ chẳng phải cơ sở. Trong thông tin phải nêu tên
của bên cung cấp dịch vụ ngoại hệ cùng với địa chỉ và phần mô tả dịch vụ hiện có. Nếu
đây là điều không khuyến cáo về mặt y tế - theo ghi nhận của bác sĩ khám bệnh trong
hồ sơ chăm sóc người lưu trú - thì phải trao thông tin cho giám hộ, hoặc người khác đã
được bệnh nhân chỉ định làm đại diện.
Chăm Sóc Sức Khỏe Thích Đáng
Người lưu trú có quyền được chăm sóc y tế và chăm sóc cá nhân theo cách phù hợp,
dựa trên nhu cầu riêng. Chăm sóc thích đáng nghĩa là chăm sóc có mục đích giúp
người lưu trú đạt mức cao nhất trong hoạt động chức năng thể chất và tinh thần. Quyền
này bị giới hạn khi không thể dùng nguồn tài nguyên công cộng hay tư nhân để trang
trải dịch vụ.
Tiếp Tục Chăm Sóc
Người lưu trú có quyền được chăm sóc theo định kỳ hợp lý, và sẽ tiếp tục phân công
nhân viên trong chừng mực chánh sách cơ sở cho phép.
Từ Chối Chữa Trị
1. Người lưu trú có quyền: cự tuyệt trị liệu, từ chối tham gia nghiên cứu thực nghiệm,
và lập điều chỉ dẫn trước.
2. Những người lưu trú đủ tư cách sẽ có quyền khước từ trị liệu dựa trên thông tin nêu
trong đoạn mang tên “Hiểu Biết về Tình Trạng Y Tế -3&4” bên trên. Người lưu trú
nào cự tuyệt liệu pháp, dược phẩm - hoặc những ước thúc trong chế độ ăn uống 4
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
phải được thông báo về hậu quả trọng yếu dự kiến về y tế hay tâm lý khi từ chối, và
điều này được ghi vào hồ sơ y tế cá nhân. Nếu người lưu trú chẳng đủ năng lực để
hiểu rõ tình thế nhưng chưa bị xét thấy không đủ khả năng - hoặc khi quy định pháp
lý giới hạn quyền khước từ trị liệu - thì bác sĩ khám bệnh phải ghi đầy đủ mọi hiện
trạng và hoàn cảnh vào hồ sơ y tế của người lưu trú.
Thông Báo về Quyền Hạn và Xác Nhận
Cơ sở phải thông báo với người lưu trú - cả bằng lời nói và văn bản, và dùng ngôn ngữ
dễ hiểu - về quyền hạn bệnh nhân, cùng với mọi quy tắc và quy định chi phối hành vi và
trách nhiệm của người đó suốt thời gian ngụ lại trong khuôn viên. Phải thông báo điều
này trước khi - hoặc vào lúc - thâu nhận, và trong thời kỳ lưu trú. Phải xác nhận họ đã
có thông tin như thế - cùng với mọi tài liệu tu chính tương ứng - bằng văn bản.
Thông Tin về Medicaid và Medicare
1. Đối với người lưu trú được hưởng quyền lợi Medicaid, cơ sở điều dưỡng phải thông
báo (bằng văn bản) vào thời điểm thâu nhận, hoặc khi người đó hội đủ tiêu chuẩn
được Medicaid đối với:
A. Những hạng mục và dịch vụ gồm trong dịch vụ của cơ sở điều dưỡng theo
chương trình Medicaid tiểu bang và sẽ không thu lệ phí từ người lưu trú;
B. Những hạng mục và dịch vụ khác được cơ sở chu cấp nhưng có thu lệ phí từ
người lưu trú, cùng với giá biểu tương ứng; và
2. Thông báo với mỗi người lưu trú khi có thay đổi ở các hạng mục và dịch vụ.
3. Cơ sở phải thông báo với mỗi người lưu trú trước khi (hoặc vào lúc) thâu nhận và định kỳ suốt thời gian cư ngụ - về những dịch vụ sẵn có tại chỗ cùng với lệ phí
tương ứng, kể cả mọi lệ phí của dịch vụ nào không được bao trả bởi Medicare hoặc
theo giá biểu hàng ngày của cơ sở.
Văn Bản Trình Bày Quyền Hạn Pháp Lý
1. Cơ sở phải trao văn bản trình bày quyền hạn pháp lý, trong đó bao gồm:
A. Phần trình bày cách bảo vệ ngân quỹ cá nhân.
B. Bản trình bày các quy định và thủ tục thiết lập tiêu chuẩn cứu xét Medicaid, kể cả
quyền yêu cầu đánh giá theo đoạn 1924C, trong đó định rõ chừng mực tài
nguyên chẳng được miễn trừ của cặp vợ chồng vào thời điểm nhập viện và quy
về người hôn phối mạnh khỏe phần tài nguyên hợp lý nào không thể xem như
sẵn có để trang trải chi phí chăm sóc y tế cho người hôn phối đã nhập viện
(trong tiến trình chi trả theo mức hợp chuẩn Medicaid);
5
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
C. Phần đăng trình tên, địa chỉ và số điện thoại của mọi tổ chức tiểu bang chuyên
biện hộ khách hàng, chẳng hạn như cơ quan khảo sát và chứng nhận, văn
phòng cấp giấy phép, chương trình thanh tra, hệ thống bảo vệ và biện hộ, đơn vị
chống gian lận Medicaid; và
D. Tài liệu cho biết người lưu trú có thể nộp đơn than phiền - lên cơ quan khảo sát
và chứng nhận cấp Tiểu Bang - về trường hợp lạm dụng, bỏ lơ và biển thủ tài
sản khi lưu ngụ trong cơ sở, và không tuân hành những điều chỉ dẫn trước.
4. Cơ sở phải yết thị văn bản thông tin ở nơi dễ thấy trong cơ sở, phải cung cấp cho
người lưu trú - và cả người xin nhập viện - những thông tin (bằng lời nói và văn bản)
về cách đệ đơn và sử dụng quyền lợi Medicare và Medicaid, và cách lấy tiền hoàn
trả các khoản đã trang trải nhưng nay được đài thọ theo quyền lợi.
Những Điều Chỉ Dẫn Trước
1. Người lưu trú có quyền lấy văn bản thông tin về những điều chỉ dẫn trước, kể cả
văn bản trình bày chánh sách của cơ sở để thực thi chỉ dẫn đó cùng với luật tiểu
bang hiện dụng.
2. Người lưu trú có quyền lập điều chỉ dẫn trước.
3. Sau khi được thâu nhận vào viện điều dưỡng hay viện chăm sóc nội trú thì người
lưu ngụ - hoặc giám hộ hợp pháp hay người quản thủ tương ứng – phải chỉ định
người không có mối liên hệ huyết thống nhưng sẽ giữ danh phận thân quyến gần
nhất của bệnh nhân trên phương diện viếng thăm và lấy quyết định chăm sóc sức
khỏe. Phải ghi chỉ định này vào hồ sơ sức khỏe. Đối với trường hợp lấy quyết định
chăm sóc sức khỏe, điều chỉ dẫn hay việc bổ nhiệm đại diện chăm sóc sức khỏe
theo chương 145C sẽ được ưu tiên áp dụng so với chỉ định đã nêu (dựa trên đoạn
văn này). Người lưu trú hay gia đình của người đó cũng có thể bổ nhiệm người
không có mối liên hệ huyết thống.
Bác Sĩ Khám Bệnh
1. Người lưu trú có quyền chọn bác sĩ khám bệnh riêng.
2. Cơ sở phải thông báo cho mỗi người lưu trú biết họ tên, chuyên khoa, và cách liên
lạc với bác sĩ chăm sóc đương nhiệm.
3. Nếu đây là điều không khuyến cáo về mặt y tế - theo ghi nhận của bác sĩ khám
bệnh trong hồ sơ chăm sóc người lưu trú - thì phải trao thông tin cho giám hộ, hoặc
người khác đã được bệnh nhân chỉ định làm đại diện.
6
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Thông Báo Thay Đổi
Cơ sở phải lập tức thông tin cho người lưu trú; hội ý với bác sĩ của người đó; và nếu
biết thì thông báo cho đại diện hợp pháp của người lưu trú (hoặc thân quyến tương
quan) khi có:
1. Tai nạn liên can làm cho người lưu trú bị thương tích và có thể phải nhờ đến bác sĩ;
2. Thay đổi đáng kể về tình trạng thể chất, tinh thần hay tâm lý của người lưu trú;
3. Nhu cầu điều chỉnh đáng kể cách trị liệu; hoặc
4. Quyết định thuyên chuyển khỏi cơ sở hay cho người lưu trú xuất viện.
Thay Đổi Phòng hoặc Bạn Cùng Phòng
Người lưu trú có quyền được thông báo trước khi đổi phòng hoặc bạn chung phòng.
Ngân Quỹ Cá Nhân
1. Người lưu trú có quyền điều quản tài vụ của mình, và cơ sở không được đòi hỏi họ
phải ký thác tiền bạc cá nhân.
2. Nếu có văn bản ủy nhiệm của người lưu trú thì cơ sở phải cất giữ, bảo an, quản lý
và ghi sổ phần ngân quỹ cá nhân mà người đó đã ký thác cho cơ sở.
A. Cơ sở phải ký thác bất cứ món tiền riêng nào của người lưu trú - nếu vượt quá
$50 - vào (các) trương mục sinh lời tách riêng khỏi mọi tài khoản kinh doanh của
mình, và phải gộp toàn bộ tiền lời có được từ ngân quỹ của người đó vào trương
mục như thế.
B. Cơ sở phải cất giữ món tiền riêng của người lưu trú - nếu chẳng vượt quá $50 trong trương mục không sinh lời, trương mục sinh lời, hoặc ngân quỹ tiền mặt
tạp chi.
3. Đúng với các nguyên tắc kế toán đã được chấp nhận rộng rãi, cơ sở phải thiết lập
và duy trì một phương thức bảo đảm quá trình kết toán tách riêng - nhưng trọn vẹn
và đầy đủ - về mọi ngân quỹ cá nhân đã giao phó trên danh nghĩa người lưu trú.
A. Hệ thống như thế phải ngăn cản mọi trường hợp trộn lẫn số tiền của người lưu
trú này với ngân quỹ của cơ sở hoặc với ngân khoản của bất cứ người nào
chẳng phải là người lưu trú khác.
B. Phải sẵn sàng cho người lưu trú - hoặc đại diện hợp pháp của người đó - biết hồ
sơ tài chánh cá nhân thông qua bản kê khai mỗi tam cá nguyệt, nếu có yêu cầu.
7
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
4. Nếu người lưu trú qua đời sau khi ký thác ngân quỹ cá nhân, thì nội trong 30 ngày,
cơ sở phải chuyển số tiền này - cùng với bản kết toán trương mục tài chánh - cho
cơ quan pháp quyền nào (quản chế hay cá biệt) điều quản tài sản của người lưu trú.
Thông Báo về Một Số Kết Toán Trương
Mục/Nguy Cơ Mất Trợ Cấp Medicaid
Cơ sở phải thông báo với người lưu trú nào được quyền lợi Medicaid:
1. Khi số tiền trong trương mục của người lưu trú đang có trị giá $200 ít hơn so với
hạn mức tài nguyên SSI cho một người, và
5. Rằng: nếu số tiền trong trương mục của người lưu trú (cộng với giá trị tài nguyên
chẳng được miễn trừ khác) bằng với hạn mức tài lực SSI cho một cá nhân, thì
người đó bị mất tiêu chuẩn hưởng Medicaid hay SSI.
Bảo Đảm Yên Ổn Tài Chánh
Cơ sở phải mua trái phiếu bảo an, hoặc đệ trình cách bảo lãnh thỏa đáng khác cho
Bộ Trưởng Dịch Vụ Sức Khỏe và Nhân Sinh (gọi tắt là Bộ Trưởng), để bảo chứng tất
cả những ngân quỹ cá nhân đã được người lưu trú ký thác cho cơ sở.
Hạn Mức Tiền Thu trên Ngân Quỹ Cá Nhân
1. Cơ sở không được trích thu lệ phí của bất cứ hạng mục hoặc dịch vụ nào từ ngân
quỹ cá nhân của người lưu trú, nếu mục đó được trang trải theo Medicaid hay
Medicare (ngoại trừ tiền khấu trừ và tiền đồng bảo hiểm hiện dụng).
A. Lệ phí dịch vụ đã gộp sẵn trong chi trả theo Medicare hay Medicaid. Trong tiến
trình lưu ngụ được Medicare hoặc Medicaid bao trả, cơ sở không được thu lệ
phí các dạng loại hạng mục và dịch vụ sau đây từ người lưu trú:
a. Dịch vụ điều dưỡng
b. Dịch vụ ăn kiêng
c. Chương trình hoạt động
d. Dịch vụ bảo trì phòng/giường bệnh
e. Các hạng mục và dịch vụ vệ sinh cá nhân cần thiết để đáp ứng nhu cầu của
người lưu trú, kể cả - nhưng không giới hạn ở:
8
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN

tiếp liệu chăm sóc tóc/lông/râu, lược, bàn chải

xà-bông tắm, xà-bông khử trùng hay chất tẩy rửa chuyên dụng, nếu chỉ
định chữa trị bệnh da chuyên biệt hoặc chống nhiễm trùng

dao và kem cạo râu/lông/tóc

bàn chải răng, kem đánh răng, chất gắn dính răng giả, chất tẩy rửa răng
giả, sợi chỉ cọ xỉa nha khoa

dầu dưỡng ẩm

khăn thấm hút, cục bông gòn, gạc thấm có bông gòn

chất khử mùi

vật dụng chăm sóc và tiếp liệu dùng cho bệnh tiêu tiểu khó cầm, khăn
giấy vệ sinh và tiếp liệu liên quan

khăn tắm, khăn lau mặt, áo choàng bệnh nhân

thuốc mua tự do

dịch vụ chăm sóc tóc/lông/râu và móng

tắm rửa, và

giặt giũ đồ dùng cá nhân thiết yếu
f. Dịch vụ xã hội trên phương diện y tế.
B. Những hạng mục và dịch vụ có thể trích thu từ ngân quỹ của người lưu trú. Dưới
đây là phần liệt kê các dạng loại tổng quát và thí dụ về những hạng mục và dịch
vụ mà cơ sở có thể trích thu từ ngân quỹ của người lưu trú nếu người đó yêu
cầu, nếu cơ sở đã thông báo sẽ thu lệ phí, và nếu không được Medicare hay
Medicaid bao trả:
9

điện thoại

tivi hay radio để sử dụng riêng

đồ dùng lặt vặt cá nhân, kể cả chất liệu hút hít thuốc lá, đồ may thêu và
mặt hàng mới, và kẹo mứt

những hạng mục và dịch vụ làm đẹp và chải chuốt thân thể - nếu vượt
ngoài hạn mức được chi trả theo Medicaid hay Medicare

quần áo riêng

sách báo đọc riêng

quà tặng đã mua nhân danh người lưu trú

hoa quả và cây cỏ

giải trí và những sinh hoạt xã hội vượt ngoài phạm vi chương trình
hoạt động
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN

dịch vụ chăm sóc đặc biệt không được bao trả, chẳng hạn như y tá hoặc
trợ tá thuê riêng

phòng riêng, trừ khi cần thiết cho trị liệu (lấy thí dụ: cách ly để tránh lây
nhiễm), và

các món ẩm thực chế biến riêng - hoặc đồ ăn theo yêu cầu - thay vì thực
phẩm thường được cơ sở nấu nướng.
2. Yêu cầu các vật phẩm và dịch vụ.
A. Cơ sở không được thu lệ phí bất cứ hạng mục hay dịch vụ nào người lưu trú
(hoặc đại diện tương ứng) chẳng yêu cầu.
B. Cơ sở không được đòi hỏi người lưu trú (hoặc đại diện tương ứng) phải yêu cầu
hạng mục hay dịch vụ bất kỳ thì mới thâu nhận hoặc cho tiếp tục ngụ lại.
C. Đối với hạng mục hay dịch vụ có thu tiền: cơ sở phải thông báo với người lưu
trú - hoặc đại diện tương ứng nào yêu cầu mục đó - về lệ phí và giá biểu.
Vấn Đề Riêng Tư và Kín Đáo
1. Người lưu trú có quyền riêng tư và được giữ kín hồ sơ y tế và cá nhân của mình.
Dữ liệu riêng tư cá nhân bao gồm phương tiện thích ứng, trị liệu y tế, văn bản thư
tín và giao tiếp qua điện thoại, chăm sóc cá nhân, những lần thăm khám, họp mặt
gia đình và tập thể lưu trú - nhưng điều này không đòi hỏi cơ sở phải chu cấp phòng
riêng cho mỗi người.
2. Nhân viên cơ sở phải tôn trọng quyền riêng tư tại phòng bệnh - bằng cách gõ cửa rồi
chờ người lưu trú đồng ý mới đi vào - ngoại trừ trường hợp khẩn cấp, hoặc nếu điều
này thật sự không thích đáng.
3. Người lưu trú có thể chấp thuận hoặc từ chối tiết lộ hồ sơ y tế và cá nhân cho bất
cứ người nào bên ngoài cơ sở, ngoại trừ những gì đã quy định ở đoạn văn (4) của
đoạn này.
4. Sẽ không áp dụng quyền từ chối cho tiết lộ hồ sơ y tế và cá nhân khi:
A. Người lưu trú bị chuyển sang nơi chăm sóc sức khỏe khác; hoặc
B. Luật pháp đòi hỏi tiết lộ hồ sơ.
5. Phải thông báo với người lưu trú khi có yêu cầu cho xem hồ sơ cá nhân từ bên
ngoài cơ sở; bệnh nhân có thể mời người khác đi theo nếu hồ sơ hoặc thông tin là
chủ đề phỏng vấn. Phải để sẵn bản sao hồ sơ và văn bản thông tin từ hồ sơ, đúng
theo phân đoạn này và các đoạn 144.291 tới 144.298 (MN Health Records Act, hay
Đạo Luật MN về Hồ Sơ Sức Khỏe). Quyền hạn này không áp dụng cho tiến trình
điều tra và thanh kiểm than phiền bởi Ban Sức Khỏe (Department of Health), bất kể
đó là quy định thu tiền từ đệ tam nhân (theo hợp đồng) hay bị luật pháp đòi hỏi.
10
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
6. Nếu thâu nhận vào cơ sở nào bị luật liên bang nghiêm cấm tiết lộ trái phép thông tin
nhận diện cư dân, thì phải thừa cơ yêu cầu người lưu trú (hay giám hộ hợp pháp
hoặc người quản thủ) cho phép thông báo với bên gọi đến và khách viếng về tình
hình hiện diện tại cơ sở - phòng khi họ muốn liên lạc với bệnh nhân. Trong chừng
mực khả dĩ, giám hộ hợp pháp hoặc người quản thủ phải suy xét ý kiến của người
lưu trú về việc về việc bệnh nhân ngụ tại cơ sở. Quyền hạn này bị hạn chế nếu
không khuyến cáo về mặt y tế, theo ghi nhận của bác sĩ khám bệnh trong hồ sơ
chăm sóc người lưu trú. Cũng phải hạn chế quyền này ở mức tương ứng, theo
chừng mực của chương trình phòng chống lạm dụng/ngược đãi tại cơ sở, căn cứ
vào Đạo Luật Bảo Vệ Những Người Bạc Nhược (Vulnerable Adults Protection Act),
Đoạn 626.557, Phân Đoạn 14, Đoạn Văn (b).
Dịch Vụ Hồi Đáp
Phải trả lời những thắc mắc và yêu cầu của người lưu trú một cách nhanh chóng và
hợp lý.
Xem Xét Kết Quả Khảo Sát
Người lưu trú có quyền xem xét kết quả lần thăm dò mới nhất của cơ sở - do nhóm
khảo sát cấp Liên Bang hay Tiểu Bang chu toàn - cùng với mọi hoạch định chỉnh sửa
đang thực hiện ở cơ sở. Cơ sở phải đặt sẵn kết quả tại nơi người lưu trú thường ghé
qua để họ dễ lấy xem, và phải niêm yết thông báo về điều này.
Bên Biện Hộ Khách Hàng/Thân Chủ
Người lưu trú có quyền lấy thông tin từ cơ quan giữ vai trò biện hộ, và được dành sẵn
cơ hội liên lạc với những tổ chức đó.
Việc Làm
Người lưu trú có quyền:
1. Từ chối thực hiện dịch vụ cho cơ sở.
2. Thực hiện dịch vụ cho cơ sở - nếu muốn - khi:
A. Cơ sở đã nêu rõ nhu cầu hoặc mong đợi về việc làm trong chương trình
chăm sóc;
B. Chương trình đã định rõ tánh chất của dịch vụ cần thực hiện và cho biết đây là
dịch vụ thiện nguyện hay phải trả tiền;
11
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
C. Thù lao (theo dịch vụ có thu phí) bằng với hoặc cao hơn giá biểu ưu dụng; và
D. Người lưu trú đồng ý với cách bố trí công việc đã mô tả trong chương trình
chăm sóc.
Thư Tín
Người lưu trú có quyền riêng tư trong văn bản giao tiếp, kể cả quyền:
1. Gởi và mau chóng nhận được thư tín (chưa bị mở xem).
2. Tự xuất tiền mua văn phòng phẩm, đồ dùng viết lách, và trả bưu phí.
Quyền Gặp Mặt và Viếng Thăm
1. Người lưu trú có toàn quyền - và cơ sở phải lập tức cho phép gặp mặt bất kỳ người
đồng lưu nào - ở những mục sau đây:
A. Bất cứ đại diện nào của Bộ Trưởng;
B. Bất cứ đại diện nào của tiểu bang;
C. Bác sĩ riêng của người lưu trú;
D. Thanh tra viên chăm sóc dài hạn của tiểu bang;
E. Các cơ quan đương nhiệm về phương thức bảo vệ và biện hộ cho người bị
chậm phát triển và bệnh tâm thần;
F. Theo quyền bãi bỏ hoặc thu hồi thỏa thuận vào bất kỳ lúc nào - đối với gia đình
trực hệ hay thân quyến khác của người lưu trú, và
G. theo những ước thúc hợp lý và quyền bãi bỏ hoặc thu hồi thỏa thuận vào bất kỳ
lúc nào - đối với khách viếng khác theo thỏa thuận mà người lưu trú đã ký kết.
2. Đối với mọi tổ chức hay cá nhân cung cấp dịch vụ sức khỏe, xã hội, pháp lý hoặc
dịch vụ khác, cơ sở phải cho phép gặp mặt thỏa đáng bất cứ người lưu trú nào, và
theo quyền bãi bỏ hoặc thu hồi thỏa thuận vào bất kỳ lúc nào.
Cho Thanh Tra Xem Hồ Sơ Y Tế
Cơ sở phải tạo điều kiện thuận lợi để các đại diện của Phòng Thanh Tra Cấp Tiểu Bang
dễ dàng xem xét hồ sơ y tế về người lưu trú - nếu người này (hoặc đại diện hợp pháp
tương ứng) cho phép, và đúng theo luật tiểu bang.
12
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Điện Thoại
Người lưu trú có quyền sử dụng điện thoại trong chừng mực hợp lý, và có thể gọi mà
không bị nghe lén.
Tài Sản Cá Nhân
1. Người lưu trú có quyền giữ và dùng đồ tư hữu - kể cả một vài vật dụng nội thất và
trang phục thích hợp, nếu có đủ chỗ - trừ khi điều đó xâm phạm quyền hạn hoặc
sức khỏe và an toàn của những đồng lưu khác.
2. Viện điều dưỡng hay viện chăm sóc nội trú phải lưu dụng kho chứa đồ (có ổ khóa
chung), hoặc chu cấp khu vực chứa trữ (dùng ổ khóa riêng), tại đó người lưu ngụ có
thể cất giữ của cải một cách an toàn. Viện điều dưỡng hay chăm sóc nội trú có thể nhưng không bị bắt buộc - đền bù hoặc thay thế vật phẩm bị thất lạc hay trộm cắp.
Các Cặp Vợ Chồng Kết Hôn
Người lưu trú có quyền dùng chung phòng với hôn phối của mình nếu cặp đồng lưu
này đã kết hôn, đang sống chung ở một cơ sở, và cả hai đều đồng ý với cách bố trí
như thế.
Tự Điều Quản Thuốc Men
Người lưu trú có thể tự dùng thuốc nếu nhóm chuyên viên đa khoa xét thấy lề lối thực
hành này an toàn.
Từ Chối Một Số Dạng Thuyên Chuyển
1. Bệnh nhân có quyền từ chối chuyển sang phòng khác nội trong nơi đó, nếu mục
đích là đổi đi do:
A. Người lưu trú tại SNF (Skilled Nursing Facility, hay Cơ Sở Điều Dưỡng Chuyên
Môn) từ phân ban khu biệt vốn là SNF sang chuyên ban không là SNF, hoặc
B. Người lưu trú tại NF (Nursing Facility, hay Cơ Sở Điều Dưỡng), từ phân ban khu
biệt vốn là NF sang chuyên ban khu biệt vốn là SNF.
2. Khi người lưu trú có quyền từ chối chuyển đi trong những hoàn cảnh này thì vẫn
không ảnh hưởng tới tiêu chuẩn cứu xét hoặc quyền được hưởng Medicare
hay Medicaid.
13
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Thâu Nhận, Thuyên Chuyển và Xuất Viện
1. Cơ sở phải cho phép mọi thành viên lưu ngụ lại và không thuyên chuyển hoặc ký
thuận xuất viện, trừ khi:
A. Thuyên chuyển hay xuất viện là điều cần thiết để giữ an sinh cho người lưu trú,
và cơ sở không thể đáp ứng nhu cầu của người đó;
B. Thuyên chuyển hay xuất viện là điều thích hợp, vì sức khỏe của người lưu trú đủ
tốt để không còn cần dùng những dịch vụ do cơ sở cung cấp;
C. Những người ở trong cơ sở đang lâm nguy vì mất an toàn;
D. Sức khỏe của những người ở trong cơ sở đang bị đe dọa/gặp nguy hiểm;
E. Tuy đã được thông báo trong chừng mực hợp lý và thích hợp, người lưu trú vẫn
chưa trang trải xong (hoặc không được bao trả theo Medicare hay Medicaid) để
ngụ lại tại cơ sở. Đối với người nào hội đủ điều kiện hưởng Medicaid sau khi
được nhận vào, cơ sở điều dưỡng chỉ có thể thu những lệ phí hợp chuẩn theo
Medicaid, hoặc
F. Cơ sở ngưng hoạt động.
2. Trước khi thuyên chuyển hoặc cho người lưu trú xuất viện, cơ sở phải:
A. Thông báo với người lưu trú (và nếu biết thì cả người trong gia đình hoặc đại
diện hợp pháp) về việc thuyên chuyển hay xuất viện - cùng với lý do của điều
đó - ở dạng văn bản và dùng ngôn ngữ và cách diễn giải dễ hiểu.
B. Ghi lý do vào hồ sơ y tế về người lưu trú.
3. Văn bản thông báo phải gồm những điều sau đây:
A. Lý do thuyên chuyển hoặc xuất viện;
B. Ngày bắt đầu thuyên chuyển hay xuất viện;
C. Địa điểm xuất viện hoặc chuyển người lưu trú đến;
D. Tài liệu cho biết người lưu trú có quyền khiếu nại hành động này lên Tiểu Bang;
E. Họ tên, địa chỉ và số điện thoại của thanh tra viên chăm sóc dài hạn cấp tiểu bang;
F. Đối với người lưu trú bị bệnh chậm phát triển ở cơ sở điều dưỡng: địa chỉ thư tín
và số điện thoại của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ và biện hộ cho người chậm
phát triển; và
G. Đối với người lưu trú bị bệnh tâm thần ở cơ sở điều dưỡng: địa chỉ thư tín và số
điện thoại của cơ quan có trách nhiệm bảo vệ và biện hộ cho bệnh nhân tâm thần.
14
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
4. Thời điểm thông báo.
A. Cơ sở phải thông báo với người lưu trú ít nhất 30 ngày trước khi thuyên chuyển
hoặc xuất viện.
B. Có thể thông báo càng sớm càng tốt (trong chừng mực hợp lý) trước khi thuyên
chuyển hay xuất viện trong những hoàn cảnh đã phác thảo ở 1 (A-F) và khi bệnh
nhân không lưu trú trong cơ sở suốt 30 ngày.
C. Cơ sở phải lo liệu chuẩn bị và định hướng đầy đủ cho người lưu trú để bảo đảm
sẽ thuyên chuyển hoặc xuất viện một cách an toàn và có trật tự.
5. Không được tự tiện độc đoán thuyên chuyển hoặc cho người lưu trú xuất viện. Phải
thông báo bằng văn bản cho người lưu trú biết việc xuất viện hay thuyên chuyển trù
định - cùng với lời lẽ biện minh - không trễ hơn 30 ngày (trước khi rời khỏi viện điều
dưỡng hoặc viện chăm sóc nội trú) và bảy ngày - đối với trường hợp chuyển sang
phòng khác nội viện. Căn cứ vào Đạo Luật về Người Mỹ Cao Niên (Older Americans
Act), đoạn 307(a)(12), thông báo này phải nêu cho người lưu trú biết quyền phản
kháng hành động trù định, cùng với địa chỉ và số điện thoại của Thanh Tra Chăm
Sóc Dài Hạn (Ombudsman for Long Term Care) phụ trách khu vực. Sau khi được
biết quyền hạn này, người lưu trú có thể dọn đi trước lúc thời kỳ thông báo chấm
dứt. Thời kỳ thông báo có thể thu ngắn trong nhiều hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm
soát của viện điều dưỡng hay viện chăm sóc nội trú, chẳng hạn như để xét lại mức
độ sử dụng, tình hình thích ứng cho người mới được thâu nhận, thay đổi ở chương
trình y tế hoặc chữa trị cho người lưu trú, vấn đề an sinh của bản thân bệnh nhân
hay bạn đồng lưu khác, hoặc do chưa trả tiền cư ngụ, trừ khi bị nghiêm cấm theo
(các) chương trình công cộng đang trang trải chi phí chăm sóc người lưu trú, đúng
như ghi nhận tại hồ sơ y tế. Các viện điều dưỡng hay viện chăm sóc nội trú phải nỗ
lực trong chừng mực hợp lý để thích ứng với người lưu trú mới mà không làm xáo
trộn cách bố trí phòng hiện tại.
Thông Báo về Chánh Sách Giữ Giường Bệnh
và Thâu Nhận Lại
1. Trước khi chuyển người lưu trú tới bệnh viện hoặc cho rời đi để trị liệu, cơ sở điều
dưỡng phải trao văn bản thông tin cho người này - và cả người trong gia đình hay
đại diện hợp pháp - trong đó nêu rõ:
A. Thời hạn của chánh sách giữ giường bệnh theo chương trình tiểu bang (nếu có),
trong đó bệnh nhân được phép trở về để tiếp tục lưu trú tại cơ sở điều dưỡng; và
B. Chánh sách của cơ sở điều dưỡng về thời kỳ giữ giường để người lưu trú trở lại.
2. Vào thời điểm chuyển người lưu trú tới bệnh viện hoặc cho rời đi để trị liệu, cơ sở
điều dưỡng phải trao văn bản thông báo cho người này - và cả người trong gia đình
hay đại diện hợp pháp - trong đó nêu rõ thời hạn của chánh sách giữ giường.
15
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
3. Cơ sở điều dưỡng phải thiết lập và tuân hành văn bản chánh sách, theo đó người
nào có thời gian lưu trú tại bệnh viện - hoặc rời đi để trị liệu - vượt quá thời kỳ giữ
giường (theo chương trình tiểu bang) sẽ được thâu nhận vào cơ sở ngay khi có chỗ
ở phòng ngăn đôi, nếu người đó:
A. Cần sử dụng những dịch vụ do cơ sở cung cấp; và
B. Hội đủ tiêu chuẩn hưởng dịch vụ Medicaid tại cơ sở điều dưỡng.
Sử Dụng Bình Đẳng Dịch Vụ Chăm Sóc
Phẩm Chất Cao
Cơ sở phải thiết lập và duy trì chánh sách và lề lối hành nghề đồng nhất - về việc
thuyên chuyển, xuất viện và cung cấp dịch vụ cho mọi người - theo chương trình tiểu
bang, bất kể nguồn chi trả.
Những Điều Ước Thúc
Người lưu trú có quyền không gánh chịu bất cứ hình thức cột giữ hay ước thúc hóa học
nào bị áp đặt vì lý do kỷ luật hoặc để tiện lợi, và không bị bắt buộc phải chữa trị triệu
chứng y tế của mình.
1. Đúng như đã định trong đoạn 145C.01, những người còn sáng suốt và đang lưu ngụ
ở viện điều dưỡng, người trong gia đình của người lưu trú không đủ sức sáng suốt và các giám hộ, quản thủ và đại diện chăm sóc sức khỏe được bổ nhiệm hợp pháp đều có quyền yêu cầu và ký kết thỏa thuận sử dụng biện pháp cột giữ thể chất để
chữa trị triệu chứng y tế của bệnh nhân.
2. Khi nhận được yêu cầu cột giữ thể chất, viện điều dưỡng phải thông báo với người
lưu trú, người trong gia đình - hoặc đại diện hợp pháp - về các giải pháp khác và
những nguy cơ tương ứng khi phải làm như thế. Viện điều dưỡng chỉ áp dụng cách
cột giữ thể chất đối với người lưu trú khi nhận được mẫu thỏa thuận có chữ ký
(trong đó cho phép vận dụng biện pháp kềm chế) và văn bản chỉ định từ bác sĩ
khám bệnh, trong đó có những phát biểu và nhận xét - về triệu chứng y tế - và nêu
rõ hoàn cảnh nào cần dùng biện pháp như thế.
3. Viện điều dưỡng nào đồng ý áp dụng cách kềm chế theo đoạn văn 2 sẽ phải:
A. ghi nhận đã tuân hành những thủ tục phác thảo ở đoạn văn đó;
B. giám sát quá trình áp dụng biện pháp kềm chế ở người lưu trú; và
C. đánh giá lại nhu cầu kềm chế theo định kỳ, sau khi hội ý với người lưu trú, gia
đình người đó và bác sĩ khám bệnh.
16
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
4. Viện điều dưỡng sẽ không bị phạt tiền, trừng trị dân sự - hoặc gánh chịu biện pháp
kỷ luật khác cấp tiểu bang hay liên bang - vì đã cho phép áp dụng cách cột giữ thể
chất theo thẩm quyền của phân đoạn này. Không một điều gì trong phân đoạn này
có quyền năng ngăn cản ủy viên đốc thúc hành động bảo vệ sức khỏe và sự an toàn
của người lưu trú, nếu:
A. việc sử dụng biện pháp kềm chế đã gây nguy hại cho sức khỏe và sự an toàn
của người lưu trú; và
B. viện điều dưỡng chưa vận dụng biện pháp hợp lý để bảo vệ sức khỏe và sự an
toàn của người lưu trú.
5. Vì mục đích của phân đoạn này, "triệu chứng y tế" bao gồm:
A. mối quan tâm về an toàn thể chất của người lưu trú; và
B. nhu cầu thể chất hoặc tâm lý của người lưu trú. Nỗi sợ té ngã có thể là căn bản
của triệu chứng y tế.
Văn bản chỉ định từ bác sĩ khám bệnh - trong đó có những phát biểu và nhận xét về
triệu chứng - là bằng cớ y tế cần và đủ về mức độ cần thiết của kềm chế thể chất.
6. Khi xác định xem cơ sở điều dưỡng tuân hành hay không tuân hành tiêu chuẩn tiểu
bang và liên bang về việc sử dụng cách kềm chế thể chất, ủy viên sức khỏe sẽ dựa
vào những phát biểu và nhận xét trong chỉ thị của bác sĩ khám bệnh về triệu chứng
y tế. Vì mục đích của chỉ thị này, "triệu chứng y tế" bao gồm đơn yêu cầu cơ sở áp
dụng cách kềm chế thể chất để tăng cường độ an toàn cho cư dân - từ người lưu trú
nào còn sáng suốt, người trong gia đình của bệnh nhân không đủ sức sáng suốt,
hoặc người giám hộ, quản thủ hay đại diện chăm sóc sức khỏe được bổ nhiệm hợp
pháp đúng như đã định trong đoạn 145C.01.
Phẩm Chất Cuộc Sống
Cơ sở phải chăm sóc người lưu trú theo cung cách và trong môi trường nào đốc thúc
duy trì hoặc củng cố phẩm chất cuộc sống của mỗi người.
Phẩm Cách
Cơ sở phải đốc thúc chăm sóc cho người lưu trú theo cung cách và trong môi trường
nào duy trì hoặc củng cố phẩm hạnh, đồng thời cũng tôn trọng và nhìn nhận toàn bộ
bản sắc của mỗi người.
17
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Tự Quyết và Tham Gia
Người lưu trú có quyền:
1. Chọn những hoạt động, thời biểu và dịch vụ chăm sóc sức khỏe phù hợp với lợi ích,
kết quả lượng định và chương trình chăm sóc của mình;
2. Giao tiếp với các thành viên của cộng đồng cả ở bên trong và bên ngoài cơ sở; và
3. Lấy quyết định về những khía cạnh cuộc sống nào có ý nghĩa đáng kể đối với bản
thân ở cơ sở.
Gia Nhập Đoàn Thể Những Người Lưu Trú
và Gia Đình
Cư dân có quyền thành lập và tham gia đoàn thể những người lưu trú trong cơ sở.
Tham Gia Những Hoạt Động Khác
Người lưu trú có quyền tham gia các hoạt động xã hội, tôn giáo và cộng đồng nào
không gây trở ngại cho quyền hạn của những cư dân khác trong cơ sở.
Thích Ứng Nhu Cầu
Người lưu trú có quyền cư ngụ và sử dụng dịch vụ trong cơ sở với mức thích ứng hợp
lý tùy theo nhu cầu và sở thích riêng, trừ khi điều đó gây nguy hiểm cho sức khỏe hoặc
sự an toàn của bản thân hay cư dân khác.
Ngược Đãi
1. Người lưu trú có quyền tự do và không bị: xúc phạm bằng lời nói, lạm dụng tình dục,
ngược đãi thể chất và tinh thần, trừng phạt thân xác, và cô lập không theo ý nguyện.
2. Đạo Luật Bảo Vệ Những Người Bạc Nhược quy định không được đối xử tồi tệ với
người lưu trú. “Đối xử tồi tệ” nghĩa là dạng hành vi đã trình bày ở Đoạn 626.5572,
Phân Đoạn 15, hoặc là hành động cố ý gây đau đớn hay thương tật thể chất
(chẳng để điều trị), hoặc là bất cứ tiến trình hành xử liên miên nào có mục đích khơi
dậy nỗi khổ tinh thần hay tình cảm.
18
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
Than Phiền
1. Người lưu trú có quyền lên tiếng than phiền mà không bị kỳ thị hoặc trả đũa. Than
phiền như thế bao gồm những gì liên quan đến chữa trị đã thực hiện và cả những gì
chưa được thực hiện; và
2. Cơ sở sẽ cố gắng giải quyết nhanh chóng những than phiền của người lưu trú, kể
cả vụ việc liên quan đến hành vi ứng xử của cư dân khác.
3. Căn cứ vào Đạo Luật về Người Mỹ Cao Niên, Đoạn 307(a)(12), thông báo về thủ tục
than phiền của cơ sở hoặc chương trình - kể cả địa chỉ và số điện thoại của Văn
Phòng Đảm Nhiệm Những Than Phiền về Cơ Sở Sức Khỏe (Office of Health Facility
Complaints) và Thanh Tra Chăm Sóc Dài Hạn (Ombudsman for Long Term Care)
phụ trách khu vực - phải được niêm yết ở nơi dễ thấy.
19
ĐẠO LUẬT LIÊN BANG VÀ TIỂU BANG VỀ QUYỀN HẠN
TÀI NGUYÊN THAM KHẢO
(VĂN PHÒNG ĐẢM NHIỆM NHỮNG THAN PHIỀN VỀ CƠ SỞ SỨC KHỎE)
OFFICE OF HEALTH FACILITY COMPLAINTS
PO Box 64970
St. Paul, MN 55164-0970
(800) 369-7994 hay (651) 201-4200 (nội đô)
(THANH TRA CHĂM SÓC DÀI HẠN)
OMBUDSMAN FOR LONG-TERM CARE
PO Box 64971
St. Paul, MN 55164-0971
(800) 657-3591 hay (651) 431-2555 (nội đô)
(BAN SỨC KHỎE MINNESOTA)
MINNESOTA DEPARTMENT OF HEALTH
(Phân Ban Điều Quy Sức Khỏe)
Health Regulation Division
PO Box 64900
St. Paul, MN 55164-0900
(651) 201-4101
(DỰ ÁN BIỆN HỘ CHO NGƯỜI BỊ CHẬM PHÁT TRIỂN)
THE DEVELOPMENTALLY DISABLED ADVOCACY PROJECT
(Dự Án Luật Sức Khỏe Tâm Thần)
The Mental Health Law Project
430 First Avenue North, Suite 300
Minneapolis, MN 55401-1780
(800) 292-4150 hay (612) 332-1441 (nội đô)
(DỊCH VỤ GIÁM SÁT & DUYỆT XÉT MỨC ĐỘ CHÍNH TRỰC)
SURVEILLANCE & INTEGRITY REVIEW SERVICES
(Gian Lận và Lạm Dụng Medicaid - các vấn đề chi trả)
(Medicaid Fraud and Abuse - payment issues)
(Ban Dịch Vụ Nhân Sinh Minnesota)
Minnesota Department of Human Services
PO Box 64982
St. Paul, MN 55164-0982
(800) 657-3750 hay (651) 431-2650 (nội đô)
(Ban Sức Khỏe Minnesota)
Minnesota Department of Health
(Phân Ban Cấp Giấy Phép và
Chứng Nhận)
Licensing and Certification
PO Box 64900, St. Paul, MN 55164
651-201-4101
[email protected]
www.health.mn.us
20
NGÀY: 4 tháng Chạp, 2015
Gọi số sau đây để lấy thông tin này
ở dạng thức khác:
651 201-4101